Tóm tắt: “Văn hoá soi đường cho quốc dân đi” là quan điểm cơ bản, quan trọng, xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa. Quan điểm đó của Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng và quán triệt trong các quan điểm, đường lối văn hóa của Đảng, đặc biệt là trong nội dung Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07-01-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Văn hóa trong quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh bao trùm toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người, từ việc nâng cao dân trí, xây dựng tinh thần dân tộc, giáo dục đạo đức xã hội, thực hiện chính sách xã hội và bảo đảm phúc lợi xã hội, xây dựng thể chế chính trị dân chủ, đảm bảo quyền dân chủ của người dân tới sự phát triển kinh tế, tạo lập nền tảng vật chất cho xã hội. Tầm nhìn văn hóa của Hồ Chí Minh vừa bao quát rộng khắp các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, vừa cụ thể và sâu sắc, gắn liền với hoạt động thực tiễn xã hội, tạo nên sức sống của văn hóa dân tộc. Sức sống của văn hóa dân tộc phải dựa trên nền tảng kinh tế phát triển, chế độ chính trị tiến bộ, các quan hệ xã hội lành mạnh, luân lý xã hội cao đẹp, tinh thần độc lập tự chủ, tự cường dân tộc được đề cao.

Quan điểm “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” của Hồ Chí Minh là quan điểm đề cao vai trò “khai sáng” của văn hóa trong phát triển xã hội.

Để văn hóa phát huy được vai trò của mình, thì nhiệm vụ đầu tiên, theo Hồ Chí Minh, là cần phải nâng cao dân trí. “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”1. Người đề ra cách làm để xóa nạn mù chữ trong nhân dân cũng rất thiết thực, cụ thể, dựa trên chính sự đồng tâm, hiệp lực, giúp đỡ lẫn nhau.

 Ở tầm mức cao hơn, nâng cao dân trí để chấn hưng dân khí, nâng cao nhân quyền, xác lập quyền kinh tế, quyền chính trị và quyền văn hóa của nhân dân.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, kiến thiết đất nước, xây dựng CNXH, Hồ Chí Minh luôn gắn việc học tập nâng cao trình độ, nâng cao dân trí của cán bộ và nhân dân với phát triển văn hóa, đề cao tính hiệu quả của nền văn hóa mới. Người căn dặn cán bộ, nhân dân học để nâng cao trình độ hiểu biết, học để tiến bộ, đồng thời phê phán bệnh chạy theo bằng cấp, hình thức: “Ngày nay không phải học để có bằng cấp, để thoát ly sản xuất. Phải học chính trị, học văn hoá, học kỹ thuật để nâng cao hiểu biết. Bởi vì công nghiệp, nông nghiệp của ta ngày càng tiến bộ thì người công nhân, người nông dân, người lao động trí óc phải càng ngày càng tiến bộ mới làm được tốt”2. Người nhấn mạnh: “Văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng”3.

Để văn hóa thực sự “soi đường cho quốc dân đi” thì văn hóa đó phải thấm sâu vào đời sống xã hội, vào từng con người, thúc đẩy, khuyến khích tiềm năng sáng tạo của con người, tạo động lực để con người làm chủ vận mệnh của mình, đứng lên giải phóng con người khỏi sự áp bức bóc lột về phương diện dân tộc, giai cấp và xã hội, phấn đấu xây dựng một xã hội dân chủ và nhân đạo theo lý tưởng chính trị tiến bộ của thời đại. Văn hóa phải được thể hiện ở trong chính trị và kinh tế, phải tham gia tích cực vào việc phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc để xây dựng và phát triển đất nước. “Văn hóa phải phục tùng sản xuất tiết kiệm, phục vụ nhân dân, phục vụ đoàn kết, phục vụ Tổ quốc”4.  Văn hóa phải “phò chính, trừ tà”, phải sửa đổi thói xấu, tổ chức xây dựng xã hội phát triển lành mạnh, mọi người phải sống với nhau vừa có lý, vừa có tình. Người luôn tin tưởng nhân dân; khơi dậy và phát huy sức mạnh của nhân dân trong xây dựng nền văn hóa dân tộc, xây dựng đời sống văn hóa mới: “Không cần thông minh tài trí, miễn là mình muốn làm, có chí làm thì nhất định làm được. Ai cũng làm như thế, thì tự nhiên nước Việt Nam ta trở nên một nước mới, một nước văn minh”5.

 Hồ Chí Minh với tầm nhìn của nhà văn hóa kiệt xuất đã vượt qua giới hạn về không gian và thời gian, hướng về tương lai với một niềm tin sắt đá vào sức mạnh bất tử của nhân dân, của dân tộc.

Tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” được hiện thực hóa trong từng suy nghĩ và hành động cụ thể của Người đối với đất nước, đối với nhân dân một cách hết sức giản dị, gần gũi, thiết thực.

Kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm “văn hoá soi đường cho quốc dân đi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã có một loạt nghị quyết về văn hóa, tiêu biểu như Nghị quyết 05-NQ/TW năm 1987; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 8) năm 1998, Nghị quyết 33 (khóa 11) năm 2014... Các nghị quyết đã có vai trò, tác dụng to lớn trong định hướng cho sự phát triển của văn hoá nước nhà suốt thời gian qua. Đặc biệt, Nghị quyết 80 đã tổng kết thực tiễn, kế thừa và phát triển cả lý luận và thực tiễn những nghị quyết trước đó đáp ứng những yêu cầu rất cao và mới khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới với nhu cầu đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Quan điểm, nội dung trong Nghị quyết 80 chứa đựng tính kế thừa và sự phát triển lý luận về văn hóa cũng như xác định mục tiêu và những nhiệm vụ lớn xây dựng, phát triển văn hóa thông qua sự đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế của văn hóa những năm qua.

Để có thể phát triển bền vững đất nước, văn hóa không chỉ là “nền tảng tinh thần”, mà phải trở thành nền tảng vững chắc của sự phát triển. Nghị quyết 80 khẳng định: “Văn hóa, con người là nền tảng”, “Phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc” cho sự phát triển.

Các giá trị văn hóa tạo ra là “nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn” cho sự phát triển và các giá trị đó phải “thấm sâu” vào toàn bộ các lĩnh vực của đời sống, góp phần trực tiếp tạo nên chất lượng cao đối với các lĩnh vực trong đời sống của con người (Không phải lấy văn hóa làm đẹp, làm trang trí, mẫu mã bề ngoài của chúng!).

Nghị quyết 80 tiếp tục đào sâu hơn, nêu yêu cầu và nhiệm vụ cao hơn, không dừng lại ở các quan hệ xã hội, mà đòi hỏi: “Văn hóa phải thấm sâu “từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”.

Từ tầm nhìn mới, bao trùm về văn hóa, Nghị quyết 80 lần đầu tiên đã đưa hai phạm trù mới về văn hóa, đó là, văn hóa là “trụ cột” và là “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Như vậy, cùng với chính trị, kinh tế, xã hội thì văn hóa trở thành một trong bốn trụ cột của sự phát triển. Có nghĩa là, hai luận điểm “văn hoá là nền tảng” và “văn hoá là trụ cột” của sự phát triển đã khẳng định một tầm nhìn mới, vừa kế thừa các quan điểm trước vừa có tính đột phá trong nhận thức lý luận về văn hoá thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Đã là nền tảng, là trụ cột thì tất yếu phải được xây dựng vững chắc, bền lâu, đúng như Cương lĩnh và văn kiện của Đảng đã khẳng định “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” phải là một trong tám đặc trưng của chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện triệt để tư tưởng trên đòi hỏi chúng ta phải kiên quyết khắc phục khuynh hướng chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà coi nhẹ xây dựng văn hoá, xây dựng con người. Khuynh hướng đó đã xuất hiện và như vậy, chắc chắn chúng ta không thể đạt được sự phát triển bền vững, thậm chí sẽ không có chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh theo quan điểm đổi mới của Đảng ta.

Về văn hóa là hệ điều tiết, thuật ngữ rất quan trọng ban đầu xuất hiện trong Nghị quyết. Con người sáng tạo ra văn hoá và đến lượt các giá trị, chuẩn mực văn hoá lại giúp con người tự hoàn thiện nhân cách của mình, tự điều tiết các quan hệ của con người với thế giới và với chính mình. Sức mạnh đặc thù của văn hoá chính là ở chức năng điều tiết này. Sức mạnh đó bắt nguồn từ các giá trị và chuẩn mực văn hóa trong nhân cách con người và đó là nhân tố quyết định vai trò và chức năng điều tiết đối với sự vận động của các lĩnh vực trong đời sống, tạo nên sự phát triển hài hòa của các quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội, con người với cộng đồng và con người với chính mình.

Để Nghị quyết về văn hóa đồng bộ, hài hòa với các nghị quyết vừa công bố, trên cơ sở nắm vững sự phát triển đột phá của thế gới hiện đại và khát vọng lớn lao của dân tộc. Vì vậy, đặc điểm nổi bật của quan điểm, đường lối phát triển văn hóa trong Nghị quyết 80 chính là “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa”, từ đó Nghị quyết khẳng định “ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa là một trong ba lĩnh vực đột phá”. Và để thực hiện nhiệm vụ này, Nghị quyết yêu cầu “xây dựng cơ chế, chính sách đột phá “phát triển” các nội dung trên trong lĩnh văn hóa, ban hành bộ quy tắc ứng xử trên không gian số, làm trong sạch môi trường văn hóa số; xây dựng hệ sinh thái văn hóa số”.

Để hiện thực hóa chủ trương rất mới, gắn với tính hiện đại trong phát triển văn hóa, một loạt công việc được chỉ ra trong Nghị quyết này nhằm tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa. Đồng thời, gắn với yêu cầu đó xuyên xuốt trong Nghị quyết là nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực, tập trung xây dựng các luật về hoạt động văn hóa, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt, hạn chế, kìm hãm sự phát triển văn hóa nhiều năm qua, xây dựng chính sách đặc thù cho các lĩnh vực đặc biệt tinh tế này, chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo và phục vụ, từ quản lý sang quản trị văn hóa hiện đại.

Trong quan điểm chỉ đạo, để thực hiện các tư tưởng mới trên đây, Nghị quyết khẳng định các lực lượng, chủ thể phát triển văn hóa, trong đó Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, gắn chặt với vai trò chủ thể sáng tạo là nhân dân và đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân giữ vai trò quan trọng. Quan điểm này là sự kế thừa, phát triển, bổ sung, cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo trong các nghị quyết trước đó về văn hóa.

Một nhận thức mới trong Nghị quyết 80 thể hiện rõ trong hai nội dung gắn kết với nhau là phát triển văn hóa phải “ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội”, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số”.

Nghị quyết 80 lần này đã vượt lên trên tư duy đó, bằng cách đặt văn hoá “ngang tầm” với chính trị, kinh tế, xã hội. Ở đây, không phải là thay đổi của từ ngữ mà thể hiện một tầm nhìn mới, chỉ ra chất lượng và vị thế của văn hóa trong việc “định vị quốc gia”. Tầm nhìn này không đơn thuần về mặt lý luận mà chính là một đòi hỏi cao sự thay đổi cơ bản trong tư duy và hành động phát triển văn hóa, khẳng định tầm vóc mới của văn hóa hiện đại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

Thực tế đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của văn hóa, con người Việt Nam. Với những quan điểm, tư tưởng và giải pháp hết sức đúng đắn, sáng tạo của Nghị quyết 80, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 40,

2, 4. Sđd, T. 10, tr. 612-613, 603

3. Sđd, T. 12, tr. 470

5. Sđd, T. 5, tr. 118

Tin, bài và ảnh: Trung tá QNCN Mai Thị Hương Giang

Tạp chí NTQS Việt Nam/Viện Khoa học/ Học viện Quốc phòng